Tài chính Lai Châu sau 15 năm nhìn lại

Cập nhật: 28/8/2020 | 6:34:28 PM

Lai Châu - vùng đất phên dậu của Tổ quốc, nơi hội tụ 20 dân tộc anh em. Trải qua bao gian gian khó trầm hùng của lịch sử. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thời đại nào, đồng bào anh em các dân tộc Lai Châu luôn một lòng đoàn kết, cùng nhau kề vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước… Mới đó mà đã hơn 15 năm dựng xây, phát triển, và Lai Châu hôm nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh - Miền đất mới ấy đang ngày ngày đổi thay.

Năm 2004, thực hiện Nghị quyết số 22/2003/QH 11 của Quốc hội Khóa XI, tỉnh Lai Châu được chia tách thành 2 tỉnh: Lai Châu và Điện Biên. Tỉnh Lai Châu mới có diện tích tự nhiên là 9.068,78 km2, bao gồm 05 huyện (Phong Thổ, Tam Đường, Mường Tè, Sìn Hồ và huyện Than Uyên). Từ một tỉnh nghèo có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nương rẫy và sự trông chờ hỗ trợ vào Nhà nước. Những ngày đầu chia tách điều kiện cơ sở vật chất còn bộn bề khó khăn, trước yêu cầu của sự phát triển, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc Lai Châu đã phát huy truyền thống đoàn kết một lòng hứa hẹn xây dựng miền đất mới nhiều khởi sắc. Và sau 6 năm (2010), tỉnh đã cơ bản ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khắn, 2015 Lai Châu không còn là địa phương kém phát triển, và đang từng bước xây dựng trở thành tỉnh trung bình trong khu vực miền núi phía Bắc.

Ngày 10/10/2004, Chính phủ có Nghị định số 176/2004/NĐ-CP v/v thành lập thị xã Lai Châu. Ngày 30/10/2008, Chính phủ ra Nghị định số 04/NĐ-CP v/v điều chỉnh địa giới hành chính huyện Than Uyên để thành lập huyện Tân Uyên. Ngày 02/11/2012, Chính phủ có Nghị quyết số 71/2012/NQ-CP v/v điều chỉnh địa giới huyện Mường Tè và huyện Sìn Hồ để thành lập huyện Nậm Nhùn. Như vậy, đến cuối năm 2012, tỉnh Lai Châu có 08 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh.

Với vị trí, địa lý là tỉnh miền núi, biên giới Tây Bắc của Tổ quốc , có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; là vùng đất có cấu tạo địa hình, địa chất đa dạng; có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nằm trong khu vực đầu nguồn sông Đà; nằm giữa hai trung tâm du lịch lớn của cả nước là: Sa Pa, tỉnh Lào Cai và di tích lịch sử Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Lai Châu có tiềm năng, lợi thế lớn về phát triển nông, lâm nghiệp, công nghiệp, thủy điện, công nghiệp khai khoáng, thương mại du lịch và phát triển kinh tế cửa khẩu.

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển, Lai Châu gặp nhiều khó khăn, thử thách như: xa các trung tâm kinh tế lớn; hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém; nền kinh tế ở điểm xuất phát thấp; quy mô nhỏ, tỷ lệ đói nghèo cao, nguồn nhân lực thiếu và yếu, trình độ dân trí không đồng đều; an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

Trong bối cảnh đó, được sự quan tâm sâu sắc của TW Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các Ban, Bộ, Ngành TW, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu đã phát huy truyền thống đoàn kết, từng bước vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được những thành tựu quan trọng: Đến năm 2010, tỉnh Lai Châu thoát khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn; năm 2015 ra khỏi tình trạng kém phát triển. Kinh tế, xã hội phát triển khá toàn diện. Trong 15 năm (2004- 2018) tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 11%/năm; Năm 2018 thu nhập bình quân đầu người đạt gần 33 triệu đồng, tăng 8 lần so với năm 2004. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2018 đạt 2.300 tỷ đồng, tăng 64 lần so với năm 2004 và hoàn thành trước 2 năm so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII đề ra. Tỷ lệ huy động vào ngân sách Nhà nước bình quân 14 – 15% GRDP. Tỷ trọng thu nội địa chiếm trên 90% trong thu ngân sách trên địa bàn. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển chiếm trên 25% trong tổng chi ngân sách địa phương.

Về huy động các nguồn lực tài chính 15 năm. Huy động cho đầu tư phát triển 165.600 tỷ đồng. Trong đó, đầu tư từ ngân sách TW 24.750 tỷ đồng; ngân sách địa phương gần 9.000 tỷ đồng, nguồn tái định cư và đầu tư các công trình thủy điện 86.844 tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài 86 tỷ đồng, đầu tư từ các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 30.231 tỷ đồng; huy động từ các nguồn vốn vay tín dụng 14.969 tỷ đồng.

Những thành tựu, kết quả của 15 năm qua có sự đóng góp trực tiếp và rất lớn của ngành tài chính. Trong điều kiện còn hết sức khó khăn, nhưng toàn ngành đã đoàn kết, quyết tâm, chỉ đạo quyết liệt trên các lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phát triển chung của đất nước. Điểm nổi bật đóng góp của ngành cùng một số bài học, kinh nghiệm có thể chốt lại như sau:

Thứ nhất: Luôn quán triệt sâu sắc, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bám sát chức năng, nhiệm vụ của ngành, thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự giúp đỡ của các Bộ, ngành TW; vận dụng linh hoạt sáng tạo trong quản lý điều hành ngân sách, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của tỉnh. Chủ động tham mưu ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách tài chính để huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, động viên hợp lý các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước (NSNN).

Thứ hai: Trên cơ sở Luật NSNN (Luật NSNN năm 2002 và sửa đổi năm 2015) và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NSNN, Luật Đầu tư công, ngành đã tham mưu trình UBND tỉnh, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp NSĐP; ban hành định mức phân bổ chi thường xuyên, chi đầu tư của các cấp, chính quyền địa phương và các đơn vị sử dụng NSNN; đã tạo cơ hội pháp lý để thực hiện chế độ phân cấp ngân sách giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, phường, thị trấn, tạo được sự chủ động, nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền các địa phương, khai thác được tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, hướng tới việc huy động, quản lý và sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch.

Thứ ba: Huy động nguồn lực tài chính và thực hiện phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính theo hướng ưu tiên đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Đảm bảo Quốc phòng – an ninh; ưu tiên phân bổ, đầu tư nhiều hơn cho các lĩnh vực, các vùng kinh tế có khả năng tạo ra động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế như hạ tầng giao thông, các công trình thủy lợi cấp nước sinh hoạt, đầu tư các khu đô thị của thành phố và Trung tâm hành chính các huyện mới được chia tách và hạ tầng kinh tế - xã hội các khu, các điểm tái định cư của công trình thủy điện cấp quốc gia.

Thứ tư: Các cơ chế chính sách tài chính được ban hành đã bám sát thực tiễn có tính khả thi cao; tạo nguồn lực quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; bộ mặt nông nghiệp, nông thôn thay đổi khá rõ nét, nhất là hạ tầng. Đã hình thành một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung có quy mô lớn và giá trị kinh tế cao như: Vùng cao su, chè, vùng sản xuất lúa gạo, Sơn Tra, Mắc Ca… góp phần tạo công ăn, việc làm, thu nhập cho người lao động, giảm nghèo bền vững. Tính đến 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 20,12%, cận nghèo còn 10,07%; đã có 34 xã được công nhận hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

Thứ năm: Quy mô ngân sách tăng nhanh và phù hợp với nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tổng thu NSĐP([1]) giai đoạn 2016 -2020 tăng 1,3 lần giai đoạn 2011 -2015 và tăng 3,4 lần giai đoạn 2006 -2010; thu ngân sách trên địa bàn([2]) giai đoạn 2015- 2020 tăng 3 lần giai đoạn 2011 -2015 và tăng gần 10 lần giai đoạn 2006 -2010. Về chi ngân sách: Với việc thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, hiệu quả sử dụng nguồn vốn từ NSNN đã có sự cải thiện. Chi tiêu ngân sách được cơ cấu lại theo hướng xóa bao cấp trong chi ngân sách, tăng chi cho đầu tư phát triển, chi cho giáo dục và đào tạo, chi khoa học công nghệ, y tế và các chính sách an sinh xã hội. Chi đầu tư từ NSNN đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hạ tầng nông thôn; nhờ đó bộ mặt nông thôn đã thay đổi nhanh chóng. Quy mô chi ngân sách([3]) địa phương tăng mạnh, giai đoạn 2016 -2020 gấp 1,3 lần giai đoạn 2011 -2015 và gấp 3,5 lần giai đoạn 2006 -2010. Chi thường xuyên([4]) giai đoạn 2016 -2020 tăng 1,5 lần giai đoạn 2011 -2015 và tăng 4,7 lần giai đoạn 2006 – 2010.

Thứ sáu: Cải cách hành chính nhất là cắt giảm thủ tục hành chính trong toàn ngành được đẩy mạnh theo hướng ngày càng được công khai minh bạch hơn góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Trong hoạt động tài chính ngân sách, hầu hết các khâu đã được áp dụng công nghệ thông tin  đảm bảo tính liên thông, kịp thời, chính xác đáp ứng được yêu cầu trong quản lý, điều hành và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước.

Thứ bảy: Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài chính, ngân sách được tăng cường nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực gắn với việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Nội dung thanh tra, kiểm tra tập trung vào các lĩnh vực: Quản lý điều hành ngân sách, quản lý, sử dụng vốn đầu tư , quản lý tài chính doanh nghiệp, quản lý nguồn kinh phí tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, BHXH góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính trong việc lập, chấp hành, sử dụng và quyết toán NSNN.

Thứ tám: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã trưởng thành, có tinh thần đoàn kết, tâm huyết, trách nhiệm trong công việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao, có tính chuyên nghiệp hơn, luôn nêu cao ý thức kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ trong thực hiện. Sẵn sàng vượt qua khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nhìn lại 15 năm có thể nói Lai Châu đã đi một chặng đường đầy gian nan, nhưng rất đáng tự hào; từ một địa phương đặc biệt khó khăn để trở thành một tỉnh phát triển mạnh của khu vực miền núi phía bắc đang dần hiện hữu. Thành công đó có đóng góp không nhỏ của nhiều thế hệ cán bộ, công chức trong ngành tài chính qua các thời kỳ cùng chung tay xây dựng nên. Tuy nhiên, Lai Châu vẫn là tỉnh khó khăn nhất cả nước, quy mô kinh tế nhỏ và chưa thật sự bền vững, nguồn lực cho đầu tư phát triển và cho tăng trưởng kinh tế vẫn là những thách thức trong thời gian tới. Huy động nguồn thu nội sinh từ kinh tế còn nhiều khó khăn, cơ cấu chi ngân sách còn có mặt bất cập, chưa thật sự hiệu quả. Nhưng với truyền thống đoàn kết và kết quả ngành tài chính đã đạt được trong những năm qua, nhất định cán bộ, công chức, viên chức ngành tài chính sẽ nỗ lực, phấn đấu vượt qua thử thách để cùng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh vững bước thực hiện khát vọng vươn cao, vươn xa đưa Lai Châu tiến nhanh, tiến mạnh và tiến bền vững trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực.

(1) Tổng thu NSĐP: (2006-2010: 14.603 triệu đồng; (2011 – 2015): 37.208 triệu đồng; (2015 -2020): 49.522 triệu đồng.

(2) Tổng thu ngân sách trên địa bàn: (2006-2010: 1.076 triệu đồng; (2011 – 2015): 3.541 triệu đồng; (2015 -2020): 10.683 triệu đồng.

(3) Tổng chi ngân sách địa phương: (2006-2010: 13.698 triệu đồng; (2011 – 2015): 36.666 triệu đồng; (2015 -2020): 48.256 triệu đồng.                                                           

(4) Tổng chi thường xuyên: (2006-2010: 5.625 triệu đồng; (2011 – 2015): 18.033 triệu đồng; (2015 -2020): 26.294 triệu đồng.

(Nguồn: Trần Xuân Chiến)

TIN ĐĂNG MỚI NHẤT
CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG
Thống kê truy nhập
  • Trang được mở: 872
  • Khách trong ngày: 742
  • Khách online: 59
  • Lượt khách: 1
Công khai ngân sách
Quản lý văn bản
Thông báo mời họp của UBND tỉnh
Cục Tin học
Cải cách thủ tục hành chính
Đăng ký tài sản
Văn bản pháp luật
Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu
Công báo Lai Châu
Bộ Tài chính