NÀ TĂM HÔM NAY

Cập nhật: 20/7/2020 | 10:38:12 AM

(Giải nhì cuộc thi tìm hiểu về lịch sử 75 năm ngày truyền thống ngành Tài chính Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2020)

Nà Tăm xưa và nay

           Nà Tăm thuộc huyện Tam Đường

          Hôm nay ta lại dặm trường về thăm

          Cảnh nghèo lận đận bao năm

          Đường về với bản xa nằm cheo leo

 

          Mái tranh, vách nứa, quạnh hiu

          Nước sinh hoạt thiếu, ruộng nhiều mảnh hoang

          Suối sâu chẳng có cầu sang

          Giao thông đi lại thêm càng khó khăn

         

          Nay về thăm lại Nà Tăm

          Đổi thay cảnh sắc hơn nhiều năm xưa

          Giao thông đi sớm, về trưa

          Theo bàn chân trẻ nhộn vui tới trường

         

          Đồng lúa vàng một nắng hai sương

          Sắn khoai thóc lúa thơm hương mới

          Vườn cây trái quả sai trĩu trịt

          Nương chè xanh thơm ngát hương bay

         

          Lợn gà chiều sớm tối ngày

          Bò trâu sinh sản đã đông đầy đàn

          Sức cày kéo giờ đã không còn thiếu

          Ruộng, nương đã được quay vòng thoi đưa

         

          Cầu treo lắc lẻo ngày xưa

          Giờ đây vững chắc đưa em đến trường

          Cô thầy chung một tình thương

          Dịu hiền dáng mẹ cạnh trường chăm nom

         

          Bao năm mong ước mỏi mòn

          Dân giờ khám chữa bệnh không còn đi xa

          Trạm xá ngay cạnh gần nhà

          Ốm đau bệnh tật chữa là khỏi ngay

         

          Trụ sở xã nằm ngay ven lộ

          Mới hai tầng trông thật khang trang

          Giờ đây dân thật tiện đàng (đường)

          Làm nhanh thủ tục dễ dàng hơn xưa

         

          Đường điện mới thắp lên ánh sáng

          Thỏa nồi lòng mong ước lâu nay

         Nà Tăm giờ đã đổi thay

         Bõ công trên dưới chung tay dựng thành.

 

Nà Tăm hôm nay

          Tốt nghiệp ngành Tài chính ra trường, tôi xin làm hợp đồng trong một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Năm 2004, tôi được tuyển dụng chính thức vào làm việc tại Văn phòng Sở Tài chính tỉnh Lai Châu. Thực hiện sự phân công của tổ chức, tôi cùng các đồng chí trong Sở được cử xuống xã Nà Tăm huyện, Tam Đường thực hiện làm công tác xóa đói, giảm nghèo (XĐ- GN) mà ngày đó dân bản vẫn thường gọi là cán bộ 05.

Cùng với việc thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của mình và để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy, đồng thời cụ thể hóa chương trình mục tiêu, chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Sau quãng đường 50km, gần trưa chúng tôi đến Nà Tăm trong cái nắng heo hắt của những ngày chớm hạ. Trong cái bắt tay nhễ nhại mồ hôi của Bí thư Đảng ủy xã ngày ấy là Đ/c Lò Văn Pánh, anh cười phấn khởi, kèm lời động viên như thầm nhắc tới Tổ công tác 05 (TCT 05) một nhiệm vụ khá nặng nề: “Có cán bộ 05 về giúp xã, mình tin sớm thôi, bà con Nà Tăm sẽ không còn đói nghèo”, còn Đ/c Lò Văn Hặc - Chủ tịch ủy ban xã giao nhiệm vụ kèm cái cười rất hóm: “Đây nhé, xã dành riêng một trợ lý đặc biệt cho TCT 05, đồng chí ấy là người am hiểu đặc thù tình hình địa phương, anh vừa nói vừa vỗ vai Đ/c Vàng Văn Xi giới thiệu với chúng tôi, khi ấy anh Vàng Văn Xi là Chánh văn phòng ủy ban xã. Vậy là TCT 05 chúng tôi thêm một thành viên nữa là 3 người.

Nhận thức được vai trò của cán bộ 05, anh em chúng tôi đã nhanh chóng bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ mà trước hết là tham mưu cấp Ủy, Chính quyền xã kiện toàn Ban chỉ đạo XĐ-GN, tổ chức khảo sát, xây dựng Đề án XĐ-GN trình UBND huyện Tam Đường phê duyệt. Để Đề án XĐ-GN sát với tình hình thực tiễn địa phương và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trên địa bàn huyện, tỉnh, đồng thời lồng ghép có hiệu quả với các chương trình, đề án khác của tỉnh, của Trung ương về hỗ trợ cho các hộ nghèo và hộ gia đình chính sách, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.

Ngày ấy, Nà Tăm là một xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của huyện Tam Đường; tổng diện tích đất tự nhiên là 2.416,98 ha, diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt 547 ha. Số hộ nghèo toàn xã chiếm hơn 50% (211/408 hộ), nguyên nhân chủ yếu của các hộ nghèo là thiếu đất sản xuất, thiếu sức kéo, tập quán canh tác còn lạc hậu, chưa mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật để thâm canh cây trồng, vật nuôi; cơ sở hạ tầng như trụ sở UBND xã, trạm y tế, phòng lớp học ở một số bản sập xệ, xuống cấp; đường điện sinh hoạt tạm bợ, nước sinh hoạt chủ yếu dựa vào nước mưa hoặc nước mó; giao thông đi lại khó khăn nhất là trong mùa mưa lũ, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi ra lớp còn thấp, công tác phổ cập giáo dục còn nhiều hạn chế...

Từ thực trạng và nguyên nhân dẫn đến đói nghèo nêu trên, TCT 05 tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xã xây dựng Đề án với 5 nội dung hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt gồm: Hỗ trợ nhà ở (tấm lợp); Nước sinh hoạt (hỗ trợ kinh phí  đào giếng); Đất sản xuất (hỗ trợ tiền khai hoang đất); Giống cây trồng (lúa, ngô, đậu tương…) và vay vốn ngân hàng chính sách (để mua trâu). Những ngày cùng anh Vàng Văn Xi về bản khảo sát thực địa, một điều mà anh em nhận thấy tình trạng chung đã thành nếp trong lối sống của người dân Nà Tăm thời bấy giờ là khu chăn nuôi bố trí dưới gầm nhà sàn. Ngày mưa thì nước từ khu chăn nuôi chảy lênh láng khắp bản nắng lên thì bốc mùi ô nhiễm, là tâm điểm của bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe đời sống bà con Nhân dân trong bản. Những thói quen ấy dường như đã thâm căn cố đế vào nếp nghĩ của bà con nơi đây và khó có thể thay đổi trong một sớm, một chiều. Qua câu chuyện với các cao niên trong bản, được biết, trước đây trâu bò lợn gà phần lớn là thả rông, đeo mõ, buộc dây, sấn tai, cũng vì không chuồng trại nuôi nhốt nên có năm thời tiết rét đậm, rét hại dịch bệnh tràn về, nhiều nhà sau một đêm mất trắng. Sau này bà con đưa các con vật về nuôi nhốt ngay dưới nơi ngủ vừa đảm bảo, tiện theo dõi là như thế. Và một nghịch lý, Nà Tăm có địa hình khá bằng phẳng, đất đai, nương bãi phì nhiêu màu mỡ cớ  sao cái đói, cái nghèo cứ mãi đeo bám lấy bà con? Câu hỏi ấy luôn thôi thúc tâm trí các thành viên trong TCT. Sau khi khảo sát tình hình thức tế, nhận thấy, từ lâu bà con Nà Tăm vẫn duy trì thói quen canh tác một vụ, còn một vụ vào mùa khô thì bỏ hoang vì lý do thiếu nước tưới, nên sau những tháng ngày chơi xuân, cái bụng đói, người dân lại phải lên rừng chặt gỗ làm củi bán hoặc đi làm thuê... Cái bụng không no, sức không có thì làm được gì. Nhiều đêm trăn trở phải tìm ra giải pháp giúp người dân phát triển kinh tế hộ gia đình nhưng phải đảm bảo vệ sinh môi trường và phải thực hiện trên diện một diện rộng và triệt để luôn trực trào trong mỗi thành viên của TCT 05 chúng tôi.

Sau khi nắm bắt thực tế tình hình địa phương, cùng với những cuộc họp riêng của tổ 05 với cấp ủy, chính quyền xã và nhiều cuộc họp mở rộng lấy ý kiến của các ban ngành, các già làng trưởng tìm ra lời giải cho bài toán đói nghèo. Cùng với việc triển khai chính sách hỗ trợ theo Đề án được phê duyệt, TCT 05 tham mưu với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã phát động phong trào: “Sạch nhà, đẹp bản, xanh đồng ruộng”, phong trào được triển khai trong khí thế sôi nổi hào hứng của các ban, ngành, đoàn thể trong xã, mới đầu bà con chưa chịu rời chuồng trại, khu vệ sinh ra xa nhà ở. Đi đầu trong phong trào là các cán bộ đảng viên của xã, các trưởng bản, tranh thủ uy tín tiếng nói của các già làng, người có uy tín, dần dần bà con đã nghe và thông tỏ. Sức lan tỏa của chiến dịch “Sạch nhà, đẹp bản, xanh đồng ruộng” được bà con hưởng ứng nhiệt tình, trở thành một phong trào rộng khắp.

 Đ/c Vàng Văn Xi - thành viên TCT, sau này là Bí thư Đảng ủy xã chưa khi nào quên hình ảnh những Đ/c cán bộ 05 mặc dù thời tiết rét như cắt ra, cắt thịt đã trực tiếp cùng người dân khuân đá, đóng cọc, giải bạt bè bờ chặn ngang dòng suối Nậm Mu lấy nước tưới tiêu cho cánh đồng lúa 1 vụ của bản Nà Tăm 2. Với phương trâm "tỉnh xuống xã, huyện xuống bản, xã đến tận hộ dân", các thành viên TCT 05 xuống bản trực tiếp cầm tay chỉ việc, hướng dẫn bà con cách trồng lúa nước, chăn nuôi theo mô hình trang trại, đồng thời thực hiện tốt “bốn cùng” với dân "cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng dân tộc", nắm bắt phong tục tập quán, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Cũng từ cái ý tưởng chặn dòng suối Nậm Mu lấy nước tưới tiêu cho cánh đồng lúa 1 vụ, sau này hệ thống kênh mương thủy lợi của xã được đầu tư xây dựng; lựa chọn những giống lúa mới có năng suất và dinh dương cao vào canh tác, cái đói Nà Tăm đã được đẩy lùi và cũng từ đấy cánh đồng Nà Tăm 2 được bà con gọi là cánh đồng 2 vụ.

Từ những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, người dân trên địa bàn xã được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, được tập huấn kỹ thuật canh tác và các mô hình sản xuất thông qua chương trình khuyến nông, khuyến lâm, mua tấm lợp, sửa chữa, nâng cấp nhà ở, đặc biệt là được vay vốn với lãi xuất thấp từ Ngân hàng Chính sách để đầu tư phát triển kinh tế, từng bước đem lại thu nhập, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Sau 3 năm giảm được 40 hộ nghèo/năm, bình quân 13,3 hộ/năm, đạt 6,3% hộ/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Tuy kết quả giảm nghèo mới đạt ở mức theo kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã cũng như công tác XĐ-GN theo đề án, song TCT 05 cũng đã để lại những kinh nghiệm quý báu, những tình cảm chân tình trong lòng cán bộ và nhân dân trong xã.

Mỗi khi có dịp nhắc lại chuyện xưa, anh Lò Văn Hặc dân tộc Lào ở bản Nà Tăm 2 chưa khi nào quên cảnh sau tết, tới ngày giáp hạt, anh lại vào rừng chặt gỗ làm củi bán, đào măng, tìm nấm sống qua kỳ đói. Sau này được ngân hàng CSXH cho vay vốn, được cán bộ 05 trực tiếp hướng dẫn cách làm. Bao năm mượn trâu cày, sau 3 năm gia đình anh đã có 1 trâu mẹ và 2 nghé con, giờ nhìn lại cơ ngơi nhà cửa ao vườn, anh lại thấy bùi ngùi của những ngày khốn khó, những bức ảnh chụp cùng TCT 05 ngay nào vẫn được anh gìn giữ như một kỷ niệm và một niềm tri ân. Hôm nay về đây, khi gặp gỡ và trò chuyện với Đ/c Nguyễn Văn Chiến, Chủ tịch UBND xã Nà Tăm đã khẳng định: Nà Tăm có được khởi sắc như ngày hôm nay là nhờ những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là nền tảng đi lên từ chương trình Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy về công tác XĐ-GN, cụ thể là cán bộ 05 của Sở Tài chính đã giúp bà con xã Nà Tăm thay đổi trong nếp nghĩ, cách làm. Nà Tăm giờ đây như thiếu nữ đang tuổi dậy thì, khoách lên mình tấm áo mới đi hội xuân. Đó là những bản làng đẹp đến nao lòng như bản văn hóa Nà Luồng của dân tộc Lào với những vẻ đẹp mộc mạc cùng với nghề thổ dệt thổ cẩm truyền thống có từ lâu đời; hay những nếp nhà cổ thấp thoáng trong những tán cây xanh mát của bản Nà Hiềng, Nà Kiêng, Phiêng Giằng, Coóc Cuông và đêm đêm trên những trục đường bê tông sạch nhẵn là ánh đèn điện như sao chạy dài tít tắp tới từng ngõ bản - bức tranh về đề tài Nông thôn mới đang hiện hữu nơi đây.

Ngày Tổ công tác chia tay với cán bộ và bà con Nhân dân xã Nà Tăm trở về nhận nhiệm vụ mới, trong cái ôm, cái bắt tay thật chặt như chẳng muốn rời xa, trong lòng bùi ngùi nhớ lại những kỷ niệm một thời cùng nhau đi xuống bản trời mưa rét, đường trơn như đổ mỡ, có những bản cách trung tâm xã hơn 5 km, không có cầu, giao thông đi lại khó khăn, có những thời điểm mưa lũ, nước sông dâng cao nhưng TCT 05 và cán bộ xã không ngại ngùng, sẵn sàng bơi qua sông sang bản để triển khai những chính sách hỗ trợ, kế hoạch sản xuất cho kịp thời vụ... Mặc dù có những khó khăn vất vả, nhưng những cán bộ 05 không quản ngại, bằng tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết với công việc và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cấp trên giao; cán bộ và bà con Nhân dân trong xã yêu mến.

(Nguồn: Trần Đức Nhân)

TIN ĐĂNG MỚI NHẤT
CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG
Thống kê truy nhập
  • Trang được mở: 842
  • Khách trong ngày: 723
  • Khách online: 44
  • Lượt khách: 1
Công khai ngân sách
Quản lý văn bản
Thông báo mời họp của UBND tỉnh
Cục Tin học
Cải cách thủ tục hành chính
Đăng ký tài sản
Văn bản pháp luật
Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu
Công báo Lai Châu
Bộ Tài chính